Chào mừng các bạn đến với cổng thông tin điện tử Huyện Phước Sơn!
THÔNG BÁO NHANH KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 10, KHÓA XI.
Người đăng: Trương Công Minh 0903.555.285 .Ngày đăng: 16/02/2015 .Lượt xem: 1206 lượt.
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khoá, từ ngày 05 đến ngày 12-01-2015, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã họp Hội nghị lần thứ mười để thảo luận, thông qua các dự thảo văn kiện trình Ðại hội XII của Ðảng; cho ý kiến về một số báo cáo, đề án để Bộ Chính trị tiếp thu, hoàn thiện, lãnh đạo tổ chức thực hiện; tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ba

1- Trung ương đã thảo luận góp ý kiến dự thảo Báo cáo Chình trị trình Đại hội XII của Đảng: Trung ương cơ bản tán thành với kết cấu và những nội dung chính của Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII, đồng thời, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc để Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Dự thảo, tập trung vào các vấn đề lớn sau:

1.1- Trung ương xác định, chủ đề, đồng thời cũng là tiêu đề của Báo cáo chính trị cần thể hiện mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt trong nhiệm kỳ Đại hội XII, có ý nghĩa quy tụ sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, gắn với những yêu cầu cơ bản và sát với những vấn đề bức thiết được đặt ra từ thực tiễn trong nhiệm kỳ tới. Trung ương chọn phương án : “ Tăng cường xây dựng Đảng trọng sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc vfa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

1.2- Phương châm chỉ đạo Đại hội:

                          “ Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đổi mới”

1.3- Đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 - 2015): Trong những năm qua, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến mau lẹ, phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nêu cao ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực phấn đấu giành được những thành quả quan trọng, tạo tiền đề để nước ta phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn mới.

- Những hạn chế, khuyết điểm trong nhiệm kỳ 5 năm qua: Đổi mới chưa đồng bộ, chưa quyết liệt; một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu còn cao, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Nhiều hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội chậm được khắc phục. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạp đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,…chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp. Hội nhập quốc tế cod mặt chưa chủ động, hiệu quả chưa cao…

1.4-Về mục tiêu nhiệm kỳ 2016 - 2021, Trung ương xác định: Cần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng nền tảng vững chắc để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên cơ sở tính toán bước đầu, Trung ương thảo luận về một số chỉ tiêu quan trọng cần phấn đấu trong 5 năm tới; trong đó, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 6,5-7%/năm; đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200-3.500 USD; tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong GDP trên 85%; tỷ lệ đô thị hóa đạt 38-40%; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 35-40%.

1.5-Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả 6 nhiệm vụ trọng tâm sau :

(1)- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ.

(2)- Xây dựng tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3)- Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động. Thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Trước mắt, chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

(4)- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Mở rộng quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5)- Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6)- Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh. Giải quyết tốt những vấn đề xã hội bức xúc; tăng cường quản lý phát triển xã hội; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội.

2- Trung ương đã thảo luận và cho ý kiến về dự thảo "Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020".

2.1- Về những thành quả đạt được: Trung ương nhận định, trong gần 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn quân, kinh tế - xã hội nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng:

(1) Kinh tế vĩ mô dần ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. (2) Tăng trưởng được duy trì ở mức hợp lý và từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước;chất lượng tăng trưởng một số mặt được cải thiện. (3) Ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực. (4) Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được kết quả bước đầu.(5) Văn hoá,  xã hội có bước phát triển, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.(6) Ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được tăng cường. (7) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước có bước được nâng lên; đẩy mạnh cải cách hành chính; tích cực chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí. (8) Quốc phòng và an ninh được tăng cường, bảo đảm được chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, giữ được môi trường hòa bình, hữu nghị cho phát triển kinh tế-xã hội. (9) Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh và được chủ động đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả tích cực.

2.2- Về những hạn chế, yếu kém,Trung ương chỉ rõ: (1) Kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc. (2) Kinh tế phục hồi còn chậm, chưa đạt chỉ tiêu đề ra, chất lượng tăng trưởng nhiều mặt còn thấp, cải thiện còn chậm. (3) Thực hiện ba đột phá chiến lược và tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu. (4) Triển khaicơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. (5) Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều mặt yếu kém, khắc phục còn chậm. (6) Ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường còn hạn chế.(7) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nhiều mặt còn hạn chế.(8) Sự gắn kết giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh chưa thật chặt chẽ.(9) Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế có mặt chưa thật chủ động và hiệu quả chưa cao.

2.1- Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của thành quả, nguyên nhân của hạn chế, yếu kém và dự báo tình hình quốc tế và trong nước những năm tới, Trung ương thảo luận mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.

- Mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2016 - 2020: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Giữ vững hoà bình, ổn định, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp tục xây dựng nền tảng vững chắc để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 - Các chỉ tiêu chủ yếu:

+ Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 6,5-7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200-3.500 USD; cơ cấu GDP: CN-XD khoảng 40%, DV: 45%, NN:15%.Tổng vốn đầu từ toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 32-34% GDP; bội chi ngân sách không qua 4% GDP. Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp tăng trưởng khoảng 25-30%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng 4-5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1-1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2020 đạt 38-40%.

+ Về xã hội và môi trường: Đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 35-40%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị khoảng 4%. Số gường bênh/1 vạn dân trên 26 gường; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoáng1,3-1,5%/năm. Đến năm 2020, phấn đấu trên 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85%% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế được xử lý. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 44-45%.

- Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:

(1) Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội.(2) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. (3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và đô thị.(4) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ. (5) Phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. (6) Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. (7) Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. (8) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân.(9) Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.(10) Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.

3- Trung ương đã thảo luận Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có). Trung ương nhận định: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội XI của Đảng thông qua đã đáp ứng cơ bản yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng; là cơ sở quan trọng tạo nên sự thống nhất ý chí, hành động, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; một số nội dung bổ sung, sửa đổi đã phát huy tác dụng, đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay, phù hợp với quan điểm, nội dung quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Trên cơ sở thảo luận, tổng kết, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân trong việc thi hành Điều lệ Đảng; căn cứ các quan điểm, nguyên tắc đề ra, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tán thành với đề nghị trình Đại hội XII của Đảng cho giữ như Điều lệ Đảng hiện hành (không bổ sung, sửa đổi).

4- Về tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn qua 30 năm đổi mới: Trung ương đã thảo luận, cơ bản nhất trí với nội dung của Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới và đóng góp nhiều ý kiến nhằm tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Báo cáo; tập trung đánh giá, phân tích thành tựu, hạn chế, nguyên nhân trên các mặt nhận thức, thực tiễn, tập trung ở 9 vấn đề:

(1) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

(2) Phát triển văn hoá, xây dựng con người Việt Nam.

(3) Giải quyết các vấn đề xã hội.

(4) Quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

(5) Đường lối và chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế.

(6) Phát huy dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị.

(7) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

(8) Xây dựng Đảng.

(9) Nhận thức và giải quyết 8 mối quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

- Đánh giá tổng quát thành tựu 30 năm đổi mới: Nhìn tổng thể, 30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong công cuộc phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đồng thời, cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết; khắc phục để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

- Những hạn chế, khuyết điểm: Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH còn một số vấn đề chưa rõ. Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực được huy động. Trong 10 năm gần đây (2006-2016) kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm. Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia của nền kinh tế còn thấp. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm được hoàn thiện, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn yếu kém. Nhiều vấn đề bức xúc nẩy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; vẫn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội. Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tình trạng “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút.

         - Trung ương đã phân tích sâu sắc 5 bài học thu được sau 30 năm đổi mới:

       (1) Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo và phát triển Cn Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.    

       (2) Phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân.

      (3) Đổi mới phải toàn diện, động bộ, có bước đi phù hợp; phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

      (4) Phát đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để xây dựng và bảo vệ vũng chắc Tổ quốc VN XHCN.(5) Phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và của cả hệ thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mặt thiết với nhân dân.

         - Tiếp tục nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận lớn: Phân kỳ thời kỳ quá độ, xác định bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Mô hình và phương thức quản lý phát triển xã hội; Đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế và chính trị; Xây dựng hệ giá trị văn hoá và con người Việt Nam; Lý luận về Đảng cầm quyền; Động lực của đổi mới và phát triển ở Việt Nam trong thời kỳ mới.

5- Trung ương đã thảo luận, cho ý kiến về Đề án tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức do Ban cán sự đảng Chính phủ xây dựng. Việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay là yêu cầu rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, tạo điều kiện để tiếp tục thực hiện cải cách chế độ tiền lương, cải cách chế độ công vụ, công chức và cải cách nền hành chính theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Qua gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, có năng lực thực thi công vụ. Việc hoàn hiện hệ thống pháp luật, nhất là việc đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, công chức, viên chức thời gian qua đã góp phần phát triển nền hành chính công vụ; tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; từng bước xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức một cách hợp lý… Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập : Quản lý biên chế chưa thực sự gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, phạm vi phục vụ; biên chế còn thiếu khoa học; tổng số biên chế có xu hướng tăng lên, nhất là trong các đơn vị sự nghiệp công lập...

Trên cơ sở phân tích kỹ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của những hạn chế, yếu kém, thiếu sót; xác định mục tiêu của công tác tinh giản biên chế và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nêu rõ quan điểm và các giải pháp thực hiện.

Trung ương nhấn mạnh, cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, công chức, viên chức trong cả hệ thống chính trị; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế cán bộ, công chức, viên chức theo hướng tập trung, thống nhất; tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy và thực hiện tinh giản biên chế ở tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo ngạch, chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến thảo luận của Trung ương, chỉ đạo các cơ quan liên quan hoàn chỉnh Đề án ban hành chính thức để tổ chức thực hiện.

6- Trung ương đã thảo luận và cho ý kiến về Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

Đánh giá về tình hình báo chí, Trung ương nhận định: Trong hơn 10 năm qua, hệ thống báo chí nước ta phát triển nhanh về số lượng, loại hình, nội dung, hình thức, đội ngũ cán bộ... Công tác chỉ đạo, quản lý có bước đổi mới theo hướng chủ động, kịp thời hơn. Bên cạnh đó, hệ thống báo chí cũng còn những hạn chế, bất cập, khuyết điểm: cơ cấu, quy mô chưa hợp lý; khuynh hướng xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin giật gân, câu khách, thông tin không chuẩn xác chưa được khắc phục; năng lực cán bộ của nhiều cơ quan chỉ đạo, quản lý, chủ quản và cơ quan báo chí chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ làm báo còn những bất cập; vai trò, tinh thần trách nhiệm của nhiều cơ quan chủ quản còn mờ nhạt; hoạt động kinh tế của nhiều cơ quan báo chí khó khăn...

Trung ương đã chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, kết quả và hạn chế, bất cập. Từ thực trạng quản lý, phát triển báo chí, dự báo xu hướng phát triển thông tin, truyền thông, Trung ương thảo luận các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025; trong đó nhấn mạnh, báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt, nâng cao năng lực, hiệu lực, xây dựng nền báo chí nước ta cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội. Sắp xếp hệ thống báo chí gắn với đổi mới mô hình, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí. Xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng thông tin báo chí, thông tin trên mạng Internet; khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải đầu tư, buông lỏng quản lý, xa rời tôn chỉ, mục đích, nặng về thông tin mặt trái, mặt tiêu cực; thông tin không chuẩn xác,… Xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo, quản lý báo chí của các cấp uỷ đảng, chính quyền, nhất là của cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển báo chí trong tình hình mới.

7- Công tác tổ chức, cán bộ: Trung ương đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư; giới thiệu bổ sung quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo; bầu bổ sung 8 Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XI; thảo luận Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2014; và một số vấn đề quan trọng khác.

            Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 - 2015, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XII của Đảng./.

Lê Văn Thực – PTB TG Huyện ủy

[Trở về]
Các tin mới hơn:
Huyện Phước Sơn hoàn thành đại hội chi bộ ở cơ sở.
CÔNG TÁC GIÁO DỤC, BỒI DƯỠNG LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ HUYỆN PHƯỚC SƠN
Đảng bộ xã Phước Hiệp tổ chức thành công đại hội nhiệm kỳ 2015-2020
Ðảng bộ xã P/Đức: Ðoàn kết vươn lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra
Tuyên dương 147 tập thể, cá nhân du thực hiện tốt Chỉ thị 03
Đại hội Chi bộ Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, nhiệm kỳ 2015 – 2020
Đảng bộ thị trấn khâm đức thực hiện thắng lợi NQ 5 năm (2010-2015)
PHÁT HUY TÍNH DÂN CHỦ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ CƠ SỞ
Phước Sơn: Hội nghị huyện ủy mở rộng lần thứ 26
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp xúc cử tri huyện Phước Sơn
    
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10  
    
Các tin cũ hơn:
Khối 2A tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú
Cấp bổ sung kinh phí thực hiện công tác bầu cử
Cấp 65 bộ tài liệu hỏi đáp Nghị quyết của Đảng về cho các thôn bản
Hội thảo đề án khôi phục tên thôn theo truyền thống lần 2
HN lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với đại biểu HĐND các cấp NK 2011-2016
HN triển khai công tác QLBVR vùng giáp ranh Phước Sơn - Hiệp Đức
Hoạt động của CLB trợ giúp pháp lý xã Phước Năng
HN Hiệp thương lần 3 lập DS chính thức ứng cử ĐB HĐND huyện nhệm kỳ 2011-2016
Huyện ủy Phước Sơn mở hội nghị lần thứ 6
Kỳ họp thứ 20 HĐND huyện khóa IX kết thúc thành công
    
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10